Tư vấn luật hình sự các tình tiết giảm nhẹ – Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:
        1/. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
        a). Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm.
        b). Người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả.
        Theo hướng dẫn tại mục 1 của Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Toà án nhân dân tối cao thì cũng được áp dụng tình tiết nêu trên trong các trường hợp sau:
        Bị cáo là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 15 tuổi khi phạm tội và cha, mẹ của họ đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
        Bị cáo là người từ đủ 15 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi khi phạm tội và cha, mẹ của họ đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nếu bị cáo không có tài sản.
        Bị cáo không phân biệt là người đã thành niên hay người chưa thành niên hoặc cha mẹ của bị cáo chưa thành niên đã tự nguyện dùng tiền, tài sản để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhưng người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối nhận, nếu số tiền, tài sản đó được giao cho cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác quản lý để thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
        Bị cáo (không phân biệt là người đã thành niên hay người chưa thành niên) hoặc cha, mẹ của bị cáo chưa thành niên xuất trình được chứng cứ chứng minh là họ đã dùng tiền, tài sản để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhưng người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối nhận và họ đã đem số tiền, tài sản đó về nhà cất giữ để sẵn sàng thực hiện việc bồi thường khi có yêu cầu.
        Bị cáo không có tài sản để bồi thường nhưng đã tích cực tác động đề nghị cha, mẹ hoặc người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè…) sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
        Bị cáo không có trách nhiệm sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra nhưng đã tự nguyện dùng tiền, tài sản của mình để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả hoặc đã tích cực tác động, đề nghị cha, mẹ hoặc người khác sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và những người này đã thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
        c). Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
        d). Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết.
        đ). Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại hoặc của người khác gây ra.
        e). Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra.
        g). Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn.
        h). Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
        i). Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức.
        k). Phạm tội do lạc hậu.
        l). Người phạm tội là phụ nữ có thai.
        m). Người phạm tội là người già.
        n). Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
        o). Người phạm tội tự thú.
        p). Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
        q). Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm.
        r). Người phạm tội đã lập công chuộc tội.
        s). Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.
        2/. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.
        3/. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.
        Nếu người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ kể trên, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật. Trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, lý do của việc giảm nhẹ phải ghi rõ trong bản án.
        Cần lưu ý khi quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự chỉ được áp dụng đối với các hình phạt chính mà không được áp dụng đối với hình phạt bổ sung, bởi vì hình phạt bổ sung không thể có nhiều khung hình phạt, không có quy định một khung hình phạt, không có quy định hình phạt nhẹ nhất và cũng không có quy định việc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.
    Nếu còn bất kỳ thắc mắc gì về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật hình sự, quý vị có thể liên hệ với Văn phòng luật sư Thiên Định để được tư vấn luật hình sự tận tâm và chuyên nghiệp.
    Luật sư Trần Đăng Minh